du hoc han quoc


Những đóng góp của Yi Kwang-Su cho văn học Triều Tiên đầu thế kỷ XX

1. Quan niệm văn chương của Yi Kwang-su

Thời tiền hiện đại, lý luận văn học của Triều Tiên chưa có thành tựu đặc sắc đủ để thoát ra khỏi cái bóng của nền lý luận văn chương Trung Hoa. Đến đầu thế kỷ XX, nói về phê bình văn học, có thể kể đến những lời bình ngắn gọn do nhà văn Yi Haejo viết trong phần đầu và cuối các tiểu thuyết của mình. Bên cạnh đó, cũng có một vài bài luận ngắn do các du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản viết, trong số đó có bài viết "Giá trị của văn chương" (Munhak ui kach'i) của Yi Kwang-su năm 1910. Năm 1916, Yi Kwang-su viết tiểu luận "Văn học là gì?" (Munhak iran hao). Đây có thể xem là tác phẩm lý luận văn học đầu tiên của Triều Tiên.

Lý thuyết văn học của Yi Kwang-su thực ra không phải là những phát hiện mới mẻ của riêng ông, mà là sự truyền đạt những lý thuyết văn chương phương Tây đã được lọc qua lăng kính Nhật Bản, rồi lại từ Nhật Bản đi qua lăng kính của một người Triều Tiên. Trong thời gian ở Nhật, Yi Kwang-su đã tiếp xúc với nhiều lý thuyết phương Tây, cộng với một số tác phẩm mang tính lý luận của các nhà văn Nhật Bản đương thời: “Lý thuyết văn học” của Natsume Soseki và “Sự cần thiết của tiểu thuyết” của Tsubouchi Shoyo. Nhưng nguồn tác động lớn nhất vẫn là sách của Lev Tolstoy. Yi Kwang-su thừa nhận: “Người mà tôi chịu ảnh hưởng quan điểm nghệ thuật nhiều nhất là Tolstoy”.

Ngay từ đầu tác phẩm “Văn học là gì”, Yi Kwang-su đã đặt một nhát cắt dứt khoát tách đôi “văn học” hiện đại và “văn học” truyền thống. "Thuật ngữ "văn học" (munhak) không thể hiểu như "văn" theo lối truyền thống, mà phải mang nghĩa là "văn học" theo cách hiểu của phương Tây. Có lẽ tác giả muốn phân biệt khái niệm “văn học” (munhak) với “văn” (tiếng Trung: wen). Trong quan niệm văn chương Trung Hoa, “văn” dùng để chỉ không phải chỉ là các tác phẩm văn chương nghệ thuật, mà bao hàm mọi loại văn bản liên quan đến chính trị, triết học, văn hóa, giáo dục…

Yi Kwang-su định nghĩa văn học là "sự chuyển tải tư tưởng (sasang) và tình cảm (kamjeong) của con người dưới một hình thức đặc biệt". Cảm xúc (cheong) là thuật ngữ trung tâm trong lý thuyết của ông, nó là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt văn chương hiện đại với tiền hiện đại (hay văn chương theo cách hiểu truyền thống và cách hiểu của phương Tây). "Cheong" có nội hàm rất rộng, chỉ tất cả những gì thuộc về thế giới cảm xúc như tình yêu, niềm đam mê, nỗi đớn đau, sự căm ghét, niềm hy vọng, dũng khí...

Trước đó, vào năm 1910, Yi Kwang-su đã đề cập đến "cheong" trong một bài viết công kích đạo Khổng, xem đạo Khổng là nguyên nhân trì níu Triều Tiên trong quá trình hiện đại hóa. Bài viết này cho rằng lý do lớn nhất làm văn học không phát triển ở Triều Tiên là sự thống trị của văn học Trung quốc cổ điển.

Yi Kwang-su đưa ra quan niệm về “Trí-tình-chí” (chi-cheong-ui), theo đó trí tuệ con người bao gồm 3 yếu tố: Sự hiểu biết (Chi) - Cảm xúc (Cheong)- và Ý chí(Ui). Thực ra đây là lý luận của nhà văn Christia Wolff vào thế kỷ XVIII, sau này được Kant nhắc lại. Nguồn lý luận này đến Nhật Bản qua sách vở phương Tây, và Yi Kwang-su đã tiếp nhận được từ đó.

Yi Kwang-su nhấn mạnh: mặc dù trí tuệ con người bao gồm 3 yếu tố như vậy, nhưng trong quá khứ người ta luôn đặt cảm xúc ra phía sau, chỉ coi trọng sự hiểu biết và ý chí. Cảm xúc chỉ được xem như là “một phần bổ sung hoặc lệ thuộc” vào đạo đức và tôn giáo. Và hệ quả là văn học được dùng với mục đích "tải đạo", “khuyến thiện trừng ác" (kweonseon chingak). Nhưng đúng ra văn học “không phải là nô lệ của chính trị, luân lý, khoa học, mà bình đẳng với chúng”[1]

Trong “Văn học là gì”, Yi Kwang-su viết: "Lối nghĩ và lối cảm của người Triều Tiên đã bị đóng khung trong định kiến luân lý suốt năm trăm năm vương triều Choson trị vì, đó là chưa kể đến trước thời Choson nữa, và vì thế nên suy nghĩ, tình cảm không có cơ hội để phát triển tự do. Giá như đừng có những thứ trở lực kìm nén đó, thì bông hoa của văn học đã có thể bừng nở rực rỡ suốt năm trăm năm qua của Triều Tiên và cung cấp dưỡng chất cho tâm hồn con người, trở thành nguồn đem đến vui thú cho họ."[2]

Yi Kwangsu tin rằng lý do các quốc gia phương Tây đã có những tác phẩm văn chương đỉnh cao là do người phương Tây có sự tự do trong diễn tả suy nghĩ và cảm xúc của họ: “Nhờ kết quả của phong trào Phục hưng ở châu Âu, năm trăm năm trở lại đây, “chong” đã trở nên độc lập với “chi” và “ui” và được nhìn nhận như những yếu tố ngang bằng nhau.”[3]

Hơn thế nữa, ông cho rằng văn học không chỉ diễn tả thế giới cảm xúc của con người, mà còn có khả năng làm thỏa mãn cảm xúc nữa. “Văn học là gì” đề cập đến khái niệm “hung mi” (hứng thú). (Cần nhấn mạnh rằng: “hung” (hứng) là một trong ba đặc tính trung tâm làm nên bản sắc văn học Triều Tiên, bên cạnh “han” (hận) và “mot” (mĩ)). “Hung” xuất hiện trong lý thuyết của Yi Kwang-su gắn liền với “sự thỏa mãn cảm xúc”. Theo ông, cái “hứng” lớn của con người là việc nghĩ về bản thân mình. Những suy nghĩ đó đến từ chính cuộc sống của chúng ta, nhưng văn học không cần thiết phải phản ánh đúng hoàn toàn thế giới bên ngoài hoặc kinh nghiệm thực tế. Văn học có khả năng cho người đọc “thoát khỏi xã thế giới thực và bước đi trong thế giới ý tưởng của sự tự do tưởng tượng… để có thể trải nghiệm nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống và những ý nghĩ, cảm xúc mà bình thường sẽ không thể trải nghiệm”[4]. Sự “thỏa mãn cảm xúc" bao hàm việc kiến tạo nên một thế giới cảm xúc mà nhà văn và độc giả cùng chia sẻ. Tiểu thuyết đặc biệt thích hợp với chức năng này khi nó “mở ra đến mắt bạn đọc một cách sinh động và hiện thực một thế giới trong tưởng tượng của tác giả mà làm cho bạn đọc cảm thấy như là bản thân mình đang sống trong chính thế giới đó”. Yi Kwang su nhấn mạnh nhiều lần rằng trong “văn học mới”, tình cảm của con người sẽ được thể hiện, được làm thỏa mãn một cách một cách đủ đầy, không giới hạn: “Nếu một nhà văn muốn tạo ra một tác phẩm văn học mới ở Triều Tiên, anh ta cần lựa chọn chất liệu thật thoải mái, và phải miêu tả những suy nghĩ và tình cảm phong phú, vô cùng vô tận trong cuộc sống như thể gieo chúng trên một cánh đồng hoang (kwang ya). ”[5]

Như vậy, về mặt lý luận, đóng góp đầu tiên và cực kỳ quan trọng của Yi Kwang-su cho văn học Triều Tiên thế kỷ XX là nỗ lực chuyển đổi tư duy văn học từ phương Đông cổ điển:  “thi khả dĩ quan…”, “thi ngôn chí”, sang quan niệm phương Tây mà ông được tiếp xúc trong thời gian học tại Nhật Bản: “Văn học là sự thể hiện tư tưởng và tình cảm của con người dưới một hình thức đặc biệt”. Giữa tư tưởng và tình cảm thì yếu tố tình cảm được nhấn mạnh hơn. Văn học xưa chú trọng hiểu biết (chi) và ý chí (ui), thì nay, quan trọng nhất là phải thể hiện tình cảm (chong) của con người.

Đóng góp quan trọng thứ hai về mặt lý luận của Yi Kwang-su không chỉ liên quan việc kiến tạo nền văn học mới, mà còn chạm đến nền văn hóa nữa, đó là vấn đề "Văn học và dân tộc tính" (Munhak kwa minjokseong).

Trong bài xã luận "Ý tưởng của chúng tôi" (Uri isang) viết năm 1917, Yi Kwangsu đề nghị nhiệm vụ của trí thức là thiết lập lại một nền văn hóa mới (Sin munhwa). Ông đã phân biệt giữa “văn minh” (mun myeong) và “văn hóa” (mun hwa), mặc dù không rạch ròi lắm. Trong cách dùng của ông “ văn minh” bao gồm những lĩnh vực từ văn học và nghệ thuật đến công nghiệp, thương mại và chính trị, còn thuật ngữ “ văn hóa” chỉ bao hàm bốn lĩnh vực là triết học, tôn giáo, văn học và nghệ thuật. Ông lưu ý rằng mặc dù Triều Tiên không có triết học hay tôn giáo riêng, nhưng sự khiếm khuyết này không phải là vấn đề nghiêm trọng bởi vì chỉ có một vài quốc gia có thể khẳng định rằng họ có nền triết học và tôn giáo của riêng mình. Trong bốn lĩnh vực của văn hóa, ông xem xét sự phát triển của văn học là quan trọng nhất bởi vì “tinh thần của quốc gia đã được truyền từ thời tổ tiên của chúng ta… sẽ là hồn cốt của văn học.” [6]

Trong “Văn học là gì” Yi Kwang-su cũng đã bàn luận về vấn đề “Văn học và dân tộc tính” (Munhak kwa minjok seong) trong một chương viết. Ông cho rằng “suy nghĩ, cảm xúc và phong cách sống của một thế hệ là kết quả của việc học tập , nuôi dưỡng và rèn luyện của người đi trước (minjiok) và sự kết tinh của những đau khổ và động lực của họ.”[7], và văn chương có nhiệm vụ lưu truyền những giá trị văn hóa qua nhiều thế hệ:

“Văn chương chứa linh hồn nền văn minh của một dân tộc và nền tảng cơ bản của tinh thần dân tộc (minjoksong). Con đường hiệu quả nhất để chuyển giá trị tinh thần của nền văn minh này đến những thế hệ tương lai là văn học của dân tộc (minjok ui munhak). Những quốc gia không có nền văn học chỉ lưu truyền tinh thần văn hóa của họ qua phong tục tập quán truyền miệng, nhưng những phong tục tập quán đó sẽ không được làm giàu lên theo thời gian mà vẫn giữ nguyên nét thô sơ, nguyên thủy. Nước Triều Tiên của chúng ta đã được thành lập từ bốn ngàn năm trước. Trong suốt khoảng thời gian ấy, các quốc gia Silla, Koguryo và Paekche đã sở hữu những nền văn hóa rực rỡ, và văn hóa Triều Tiên đã có những giá trị tinh thần đặc sắc, độc nhất vô nhị, không thể tìm thấy ở bất cứ dân tộc nào khác. Tuy nhiên, nền văn chương của các triều đại này đã mất hẳn, và chúng ta không được phép mãn nguyện tiếp nhận những giá trị truyền thừa của tiền nhân…

Tuy nhiên, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho tổ tiên chúng ta. Như là hệ quả của sự xâm nhập ồ ạt các giá trị văn hóa Trung Hoa, văn hóa Triều Tiên trở nên mai một dần. Dưới sự thống trị của Trung Hoa, văn hóa Triều Tiên đã khô quắt lại và chết đi. Những trí thức Nho học biếng nhác và vô tâm đã ngu ngốc chấp nhận biến mình thành nô lệ của văn hóa Trung Hoa, và hệ quả của việc đó là văn hóa của chính đất nước chúng ta đã bị tiêu diệt.”[8]

Chỉ ra tình trạng mai một nền văn chương bản địa, làm tan biến những giá trị văn hóa từng một thời rực rỡ của Triều Tiên như vậy, Yi Kwang-su đã đề xuất nhiệm vụ của những nhà văn là phải làm sống lại những giá trị văn hóa dân tộc, truyền nó đến những thế hệ mai sau.

Lục tìm lại trong di sản văn học dân tộc, Yi Kwang-su tìm thấy một tác phẩm truyền được giá trị tinh thần của dân tộc Triều Tiên một cách mãnh liệt, bền bỉ nhất- đó là Truyện Xuân Hương, và ông đã say sưa ca ngợi tác phẩm này:

“Mặc dù không thừa nhận, nhưng từ trong sâu thẳm, người Triều Tiên luôn khao khát một thứ tình yêu như tình yêu trong truyện Xuân Hương. Nhưng tình yêu đó còn quý hơn cả vàng ngọc, trong mười hay cả trăm năm, giữa hàng ngàn người may ra có một người được nếm trải. Vì thế phụ nữ cảm thấy ghen tị với Xuân Hương, và nam giới ghen tị với Yi To-rong. Tình yêu đó quá hiếm hoi, nên người ta đem nó vào truyện, vào kịch, vào thơ để được nếm trải, để được cười, được khóc... Vào thuở ban đầu trong lịch sử Triều Tiên, chỉ có một kiểu tình yêu giữa nam và nữ, đó là thứ tình yêu như mối tình đã bừng nở giữa Xuân Hương và Lý To-rong…  Thế nhưng phong tục hôn nhân thô bạo của vương triều Choson đã giết chết những đóa hoa tình yêu hằng nở trong lồng ngực người Triều Tiên qua bao nhiêu thế kỷ”[9]

Như vậy, vấn đề “tinh thần dân tộc” trong văn chương cuối cùng cũng được Yi Kwang-su dẫn dắt trở lại với vấn đề văn học phải đi vào thế giới tình cảm, nhưng không phải chỉ là tình cảm của một cá nhân nữa, mà là những tình cảm mang đặc tính tâm hồn dân tộc. “Cheong” ở đây được hiểu cụ thể là tình yêu tự do của nam nữ trong văn hóa Triều Tiên thời chưa bị quan niệm Nho giáo bao phủ. Văn học giờ đây phải làm sống lại tình yêu đó, truyền giữ nó cho những thế hệ mai sau.

Một đóng góp quan trọng nữa về mặt lý luận xủa Yi Kwang-su là những luận bàn về ngôn ngữ. Ông định nghĩa "Văn học Triều Tiên" là "Văn học được viết bởi người Triều Tiên trong cách viết Triều Tiên". Yi Kwangsu đã nhấn mạnh chữ viết của dân tộc, coi đây là tiêu chí quan trọng để xem một tác phẩm có phải là văn học bản địa không. Ông cho rằng văn học Triều Tiên bắt đầu với phát minh của hệ thống chữ idu trong thời Ba vương quốc, và phát triểu khi vua Se-jong sáng tạo ra chữ hangul vào thế kỷ XV. Trong bài viết "Khái niệm về văn học Triều Tiên (Chosun munhak ui kaenyom - 1929), ông thậm chí đã cho rằng các tác phẩm viết bằng chữ Hán không phải là văn chương Triều Tiên. Đáng tranh cãi hơn nữa, trong "Văn học là gì", ông xếp cả văn học dịch vào văn chương Triều Tiên. Theo ông, dù cảnh trí, nhân vật trong tác phẩm là của nước ngoài, nhưng trong quá trình viết lại bằng tiếng Hàn, nó đã bị thay đổi và nhuốm màu Triều Tiên, tạo ra một tính chất khác biệt so với nguyên mẫu, khiến cho nó chuyển từ văn chương ngoại quốc thành văn chương Triều Tiên. Quan niệm này tuy khó chấp nhận, nhưng nó dã cho thấy ý thức đề cao ngôn ngữ, đặc biệt là chữ viết, xem đó là yếu tố trung tâm trong định nghĩa về văn học dân tộc.

Ở phần cuối “Văn học là gì”, Yi Kwang-su tuyên bố rằng “Văn học Triều Tiên không có quá khứ, nó chỉ có tương lai”[10]. Đây là một tuyên bố đầy khiêu khích. Phải chăng vì khái niệm "văn học" của ông không có nội hàm giống khái niệm "văn học" truyền thống? Song, chúng tôi nghĩ đây chỉ là một cách "nói quá" để nhấn mạnh vai trò kiến tạo của thế hệ nhà văn mới. Từ đây, nhà văn buộc phải suy nghĩ khác, viết khác, đưa văn chương sang hình thức hiện đại. Và chính bản thân Yi Kwang-su, với tư cách một nhà văn chứ không chỉ là một nhà lý luận, cũng dấn thân cho nền văn học mới đó bằng truyện ngắn và tiểu thuyết của mình.

2. Sự khám phá nội tâm và tinh thần dân tộc trong tác phẩm của Yi Kwang-su

Năm 1909, Yi Kwang-su lần đầu tiên được biết đến trong giới cầm bút với truyện ngắn “Có phải tình yêu?” (Koi ka) viết bằng tiếng Nhật, sau đó là các sáng tác bằng tiếng Hàn: truyện ngắn “Vô tình” (1910) (mà sau này tên truyện sẽ được dùng lại cho tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Yi Kwang-su), “Kim Kyeong” (1915), “Từ Tokyo đến Seoul” (1917), “Đứng trước gương” (1917), “Nỗi buồn của chàng trai trẻ” (1918), “Bàng hoàng” (1918), “Yun Kwang-ho” (1918), “Thư gửi người bạn trẻ” (1918)… Tiểu thuyết đầu tiên- “Vô tình” được đăng báo nhiều kỳ trong năm 1917.

Có thể tạm chia sáng tác của Yi Kwang-su thành hai mảng đề tài chính: Đề tài hôn nhân với truyện ngắn “Vô tình”, vở kịch “Kyu han”, truyện “Nỗi buồn của chàng trai trẻ”. Các truyện ngắn còn lại viết về đề tài tâm hồn người thanh niên- trí thức. Tiểu thuyết “Vô tình” ôm trọn hai mảng đề tài này.

Với các tác phẩm về đề tài hôn nhân, Yi Kwang-su cực lực đả kích luân lý Khổng- Mạnh, cố gắng làm thức tỉnh tâm hồn người Triều Tiên, trả lại cho họ tình yêu tự do vốn có trong truyền thống xa xưa, như những gì Yi Kwang-su đã viết trong các bài xã luận, lý luận văn học và những dòng luận bàn về “Xuân Hương truyện”

Trong truyện ngắn “Vô tình” sáng tác ở thời kỳ đầu cầm bút- năm 1910, tác giả cố gắng chỉ ra sự thiếu vắng tình yêu trong quan hệ vợ- chồng người Triều Tiên và nỗi đau khổ của người phụ nữ vì quan niệm trọng nam khinh nữ. Chuyện kể về một người phụ nữ lớn hơn chồng nhiều tuổi và kết hôn với anh ta khi anh ta vẫn còn là một đứa trẻ, tuân theo sự sắp đặt như mọi cuộc hôn nhân truyền thống khác. Giờ đây chồng cô đã lớn, anh ta hằng đêm đều không ngủ ở nhà, để lại người vợ của mình suy nhược trong sự cô đơn và tuyệt vọng. Một đêm anh quyết định ngủ với vợ, nhưng là để xin sự chấp thuận của vợ cho mình lấy một người thiếp. Mặc dù chấn động bởi quyết định của chồng, người vợ được an ủi phần nào sau khi cô thấy mình đã mang thai. Thế nhưng một pháp sư cho biết thai nhi là một bé gái, và người phụ nữ rơi vào thất vọng, đớn đau. Cô tự tử bằng cách uống thuốc độc; câu chuyện bắt đầu và kết thúc ở cảnh tự tử của người phụ nữ, được kể dưới sự hồi tưởng xen với những cơn đau thể xác bởi chén thuốc độc đang ngấm dần, ngấm dần…

Tác phẩm “Kyu han” kể về một người phụ nữ có chồng mà như không bởi anh đã đi du học. Nhận được thư của chồng, cô vui mừng khôn xiết. Thế nhưng nội dung lá thư lại khiến cô rối bời, cuối cùng phát điên:

“Đã năm năm kể từ khi em và tôi lần đầu tiên gặp nhau. Em khi đó mười bảy tuổi, tôi thì mới mười bốn. Nhưng tại sao tôi nhắc lại chuyện này? Khi đó ở tuổi mười bốn, tôi thậm chí không biết thế nào là một người vợ, và hôn nhân là gì? Tôi không lập gia đình theo ước muốn của tôi, mà bị ép buộc. Hôn nhân của chúng ta chỉ theo sắp đặt, do đó không có gì kết nối với nhau. Vì kiểu hôn nhân đó không còn chút ý nghĩa gì trong thế giới văn minh hiện nay, hôn nhân của chúng ta là vô hiệu.”[11]
“Nỗi đau của người thanh niên” là một lời “tuyên chiến” với những giá trị Nho giáo phong kiến trên tất cả mọi phương diện. Trong truyện xuất hiện hai người thanh niên đại diện cho hai ý thức hệ khác nhau. Mun-ho và Mun-hae. Mun-ho là một chàng sinh viên đáng yêu trong mắt những cô em họ. Mỗi lần trở về nhà trong kỳ nghỉ, anh đều làm cho đàn em gái say mê với những câu chuyện kể thật hấp dẫn. Người anh hem họ với cậu- Mun-hae- thì hoàn toàn ngược lại, là một con người lạnh lùng và lý trí:

“Mun-ho ca ngợi những nhà thơ Trung Hoa như Lý Bạch, Vương Xương Linh và những nhà thơ phương Tây như Tolstoy, Shakeapeare và Goethe. Trong khi đó, Mun-hae lại luôn chỉ trích những nhà thơ vô công rồi nghề, viết nên những bài thơ chẳng có tác dụng xã hội gì. Anh quý trong những danh nhân như Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Hi, hoặc ở phương Tây thì đó là Socrate, Washington… Mun-ho yêu những tác phẩm văn chương giàu tính thẩm mỹ, ngập tràn tình cảm, còn Mun-hae chỉ thích những tác phẩm uyên bác và truyền tải luân lý.”[12]

Và thật dễ dàng để thấy giữa hai chàng thanh niên của hai ý thức hệ khác nhau đó, ai sẽ là người thắng thế. Khi Mun-ho và Mun-hae cùng kể chuyện, các cô em họ chỉ say mê với truyện của Mun-ho. Hai nhân vật này đã minh họa cho quan điểm của Yi Kwang-su trong “Văn học là gì”, và thẳng thắn vạch ra rằng thứ văn học Nho giáo cũ kỹ đã nhạt hết sắc màu, không còn hấp dẫn với thế hệ thanh niên mới nữa.

Không chỉ dừng lại trên khía cạnh mỹ học cũ- mới, truyện còn đi vào xung đột luân lý mới-cũ để phê phán quan niệm hôn nhân phong kiến

Trong các cô em họ, Mun-ho đặc biệt yêu quý Nan-su. Anh nhìn thấy trong cô “một tài năng thơ ca thiên bẩm” và định đưa cô đến học ở Seoul. Biến cố ập xuống khi cha mẹ Nan-su nhận lời gả cô co một cận con trai trong gia đình yang-ban. Cuộc hôn nhân được chuẩn bị gấp gáp, mặc dù mọi người đã nhận ra rằng vị hôn phu chỉ là một tên đần độn. Ngay trước đám cưới, Mun-ho đề nghị Nan-su hãy cùng mình trốn đến Seoul:

“Mun-ho nói: "Hãy đi với anh đến Seoul. Chúng ta sẽ lên xe lửa đêm nay.. Anh sẽ gửi em vào trường học.”

Nan-su đã thực sự bất ngờ trước những lời của Mun-ho, và không nghĩ đến việc đáp lại đề nghị của anh. Chạy đến Seoul?- Đó là một việc cô không thể làm được. Cô lắc đầu.

"Thật nhút nhát! Lẽ nào em muốn dành toàn bộ cuộc sống của em với tên ngốc đó?”- Mun-ho siết lấy cánh tay của cô. Tuy nhiên Nan-su không hề có ý định chạy đi với anh. Cô sụp xuống trong nước mắt.”[13]
Trong các truyện ngắn này, bên cạnh việc xây dựng các nhân vật, tình tiết, tác giả xây dựng những lời phát biểu trực tiếp của nhân vật chỉ ra sự hủ bại trong lối nghĩ, lối “yêu” của người Triều Tiên khi họ mù quáng đặt cổ mình vào cái gông luân lý Nho gia:

“Chẳng biết có nơi nào trên thế giới giống như đất nước tẻ ngắt của chúng ta, giống như xã hội nhạt thếch của chúng ta không? Có nơi nào trên thế giới lại có lắm kẻ khoác lác, lắm thứ cảm giác xấu xa và hèn hạ đến thế chăng?... Mặc dù có thể lôi ra bao nhiêu nguyên nhân dể đổ lỗi đã dẫn đến tình trạng này như cách dạy dỗ ban đầu, như sự thiếu hoàn hảo của xã hội, nhưng thực ra nguyên nhân đích thực là sự thiếu hoàn toàn sự gắn kết thân mật giữa nam và nữ. Hãy nghĩ thử xem. Trong một gia đình, sự thân mật giữa vợ chồng hoàn toàn không được thiết lập. Có nhiều cặp vợ chồng không hề đến gần nhau ngoại trừ lúc quan hệ về thể xác. Hệ quả là sự gắn kết lứa đôi chỉ để làm mỗi một việc là đẻ con, và bất cứ cái gì vượt ra ngoài phạm vi đó đều là không được phép.”[14]

“Tôi là một người Triều Tiên. Mặc dù rất quen với từ “yêu” nhưng tôi, cũng giống như tất cả mọi người Triều Tiên khác, chưa bao giờ thực sự trải qua nó. Tất cả những cặp vợ chồng ở đây đều chẳng hề đến với nhau trong tình yêu. Lý do là bởi vì trong trái tim của người Triều Tiên, tình yêu không có chỗ để tồn tại, và tất cả mọi rung cảm ươm mầm tình yêu đều bị đè nát trước khi nó có thể nở ra, đều bị giết chết bởi phong tục và luân lý.”[15]

Trên bán đảo của chúng tôi, tình yêu đã bị giam cầm. Và cùng với nó, bao nhiêu tình cảm khác có liên quan đến tình yêu cũng đều bị giết chết. Chúng tôi hét lên trong tuyệt vọng đòi giải phóng tình yêu. Giống như những búp cỏ xuân tươi non, chúng tôi muốn linh hồn bị đè nén của mình được đâm lên, và giống như hoa mùa xuân, chúng tôi muốn tình yêu bừng nở.[16]

Tinh thần dân tộc trong sáng tác của Yi Kwang-su không chỉ thể hiện niềm hăng say, quyết tâm tháo hết gông xiềng của những tư tưởng ngoại lai, trả lại cho người Triều Tiên tình yêu tự do từng có trong lịch sử dân tộc, mà còn thể hiện ở một nỗi buồn rất “Triều Tiên” bàng bạc thấm đẫm trong các tác phẩm mà nhân vật chính là những trí thức đã hoặc đang du học ở Nhật Bản trong bối cảnh Nhật đang xâm lược Triều Tiên. Trở đi trở lại trong các tác phẩm của Yi Kwang-su là sự nghiền ngẫm cay đắng của thế hệ thanh niên Triều Tiên lạc lõng giữa lòng Nhật Bản. Nhật Bản- Triểu Tiên- người thanh niên đau khổ là tam giác Yi Kwang-su thiết lập trong sáng tác của mình. Thật dễ nhận ra các tác phẩm này ẩn chứa nỗi hận của con người tha hương mất mát, nỗi hận của một dân tộc bị đô hộ, nỗi hận về hoàn cảnh khiến người ta bất lực, và đó chính là nguyên nhân cho cơn khủng hoảng tinh thần của các nhân vật Yi Kwang-su dựng lên.

“Từ Tokyo đến Seoul” là một truyện ngắn có sự đối lập khung cảnh của hai mảnh đất: Nhật Bản- Triều Tiên. Nhân vật chính trải qua cuộc hành trình từ Tokyo đến Seoul bằng xe lửa và tàu thủy. Anh đã gửi cho người bạn thân thiết sống cùng mình tại Nhật lần lượt bảy bức thư ghi lại những suy nghĩ trên suốt chặng đường. Khi xe lửa dần chuyển bánh khỏi thành phố, anh nhìn qua cửa sổ toa tàu, mở ra trước mắt anh là cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, khiến anh “thực sự nhận ra niềm hạnh phúc trong cuộc sống”. Bức tranh thiên nhiên Nhật Bản đem niềm say đắm, hối thúc anh cầm bút. Khi anh nghe đàn ếch hòa âm, anh viết: “Tôi muốn chính mình là một thành viên trong đàn ếch để cất lên tiếng hát. Nhưng vì không thể được như vậy, tôi đã hát to lên bằng đôi tay của mình và tạo ra âm thanh của con chữ (문자  소리)”. Nhìn những vạt hoa trên triền núi, anh “viết một bản nhạc, bởi chúng quá đáng yêu… Thật hạnh phúc khi cất lên bài hát ấy lúc tôi ngắm nhìn qua cửa sổ toa tàu”…
Nhưng khi đến Triều Tiên, anh cảm nhận nó hoàn toàn đối lập với Nhật Bản. “Khi mặt trời mọc, nét tiều tụy của Triều Tiên hiện lên ngày càng rõ. Kìa những dãy núi trơ trọi, kìa những dòng suối cạn khô. Vì hạn hán kéo dài, những bông hoa, những khóm cây khô cằn xơ xác như đứa trẻ được nuôi dưới bàn tay mẹ ghẻ.” Cảnh vật hoang tàn đổ nát khiến anh nhận ra sự cần thiết của nghệ thuật. Lá thư cuối cùng khép lại bằng những lời tâm tình, thuyết phục người bạn hãy sáng tác: “Chẳng phải bạn đang ở giữa quá trình vẽ nên một bản đồ cho thế giới mới đó sao? Chính như thế đấy! Nhưng không cần phải vội. Hãy dành thời gian để vẽ cho chúng ta những gì tuyệt vời nhất, và sống mãi với thời gian.” Bản thân người viết thư cũng đi đây đi đó để viết, nhưng tất cả những gì anh ta có thể làm là nhận ra sự thất bại của khung cảnh Triều Tiên trong việc gợi cảm hứng sáng tác.

Câu chuyện này không thể đọc đơn thuần như là sự ca ngợi thiên nhiên Nhật Bản và đối lập nó với thiên nhiên Triều Tiên, cho rằng thiên nhiên Triều Tiên không thể gợi “hứng”, mà phải đọc như là nỗi đớn đau hờn tủi của một người nghệ sĩ đánh mất niềm say mê và hạnh phúc trên chính đất nước của mình. Sự bất lực  của anh chính là nỗi “hận” cho quê hương tiêu điều trong sự đối lập với một đất nước phồn vinh.

Soi mình vào nỗi đau của những người thanh niên trong tác phẩm của Yi Kwang-su, chúng ta nhận ra tiếng nói kín đáo của một thế hệ mang trong mình nỗi hận sống giữa đất nước tiêu điều, nô lệ. Chỉ đến tiểu thuyết “Vô tình”, nỗi đau đó mới vơi đi trong lời kêu gọi hãy cống hiến bản thân mình cho một đất nước tốt đẹp hơn trong tương lai.

Tình tiết đoàn tàu chở nhân vật đi qua mảnh đất Triều Tiên hoang tàn xuất hiện trở lại một lần nữa trong tiểu thuyết “Vô tình”, nhưng ứng xử của nhân vật thì hoàn toàn đối ngược lại: các nhân vật đã sáng tác nghệ thuật ngay trong hoàn cảnh đoàn tàu không thể chuyển bánh, người dân hoảng loạn đau khổ khi bị lũ lụt tàn phá. Để quyên góp tiền giúp người dân, Kim Byeong-uk đã đánh đàn, Hyeong-sik sáng tác thơ, và Yeong-chae dịch thơ của Heong-sik từ tiếng Hán sang tiếng Hàn.

Tiểu thuyết “Vô tình” khép lại bằng việc các nhân vật cùng đi du học, gặp gỡ nhau trên một chuyến tàu, chứng kiến cảnh thiên tai và nỗi khốn khổ của người dân Triều Tiên để càng quyết tâm hơn trong việc học tập để mở mang kiến thức, trở về phục vụ quê hương. Họ nói với độc giả: “Ai đã cho chúng ta tiền để đi trên chuyến tàu này, để trả học phí cho chúng ta? Đó là Triều Tiên- người đã cho chúng ta tất cả, để chúng ta lớn mạnh, để chúng ta có được kiến thức… Hãy hiến dâng bản thân chúng ta để có thể thấy một Triều Tiên tốt đẹp hơn khi chúng ta bước vào tuổi già và qua đời…”

Với việc đả phá luân lý Nho giáo, thể hiện nỗi buồn của thế hệ thanh niên mất nước, kêu gọi thanh niên nỗ lực học tập để cống hiến cho đất nước Triều Tiên, tác phẩm của Yi Kwang-su đã khơi dậy tinh thần dân tộc. Nhưng nếu như chỉ có giá trị khai sáng về mặt nhận thức, truyện của Ti Kwang-su có lẽ đã không hấp dẫn đến như vậy. Giá trị “khai sáng” của các tác phẩm này không phải chỉ là nhận thức về tinh thần dân tộc, mà còn là nhận thức về thế giới nội tâm của con người. Trong “Văn học là gì”, Yi Kwang-su nhấn mạnh vào việc văn chương phải thể hiện tình cảm- “cheong” của con người. Bằng thực tiễn sáng tác của mình, Yi Kwang-su đã chứng minh cho lý thuyết đó.

Trong hầu hết các sáng tác của Yi Kwang-su, chỉ trừ truyện ngắn “Vô tình” và vở kịch “Gyuhan”, các nhân vật chính đều là những chàng trai trẻ, mồ côi sớm, nỗ lực học hành để trở thành người trí thức: Mungil trong truyện “Có phải tình yêu?” (1910), “tôi” trong “Bàng hoàng” (1918), Yun Kwang-ho trong truyện ngắn cùng tên (1918) là những du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản. Nhân vật Kim Kyeong trong truyện cùng tên (1915), Mun-ho trong “Nỗi buồn của chàng trai trẻ” (1917), “tôi” trong “Thư gửi người bạn trẻ” (1917), và cả nhân vật chính Hyeong-sik trong tiểu thuyết “Vô tình” (1917) đều là những người đã từng du học ở Nhật Bản, trở về Triều Tiên. Các nhân vật này thường làm nghề dạy học và ấp ủ ước muốn trở thành nhà văn. Có thể thấy rõ yếu tố tự thuật trong sáng tác của Yi Kwang-su. Nhà văn lấy chất liệu từ chính cuộc sống của mình, vì vậy truyện và tiểu thuyết có thể xem là nơi tự bóc tách, khám phá, giãi bày con người xã hội lẫn con người nội tâm của chính bản thân nhà văn.

Điểm đặc biệt quan trọng là tất cả các nhân vật của Yi Kwang-su đều “có vấn đề” về nội tâm: cha mẹ đã qua đời, họ không có gia đình; chỉ có một người bạn thân duy nhất, và thời điểm họ xuất hiện trong truyện là lúc đang có những cơn khủng hoảng tinh thần.

“Bàng hoàng” là truyện ngắn lấy bối cảnh tại Nhật Bản. Nhân vật chính là một du học sinh người Triều Tiên cô đơn hằng ấp ủ ước mong trở thành nhà văn. Được kể dưới ngôi thứ nhất, truyện ghi lại suy nghĩ của anh ta trong một ngày nằm một mình dưỡng bệnh. Thực ra, ngay từ đầu truyện đã hé mở rằng cái làm cho anh ta đau đớn khó chịu không phải là căn bệnh về thể chất: “Cơn sốt đã dịu hẳn, tôi không còn cảm thấy đau đầu nữa. Sáng nay lẽ ra tôi có thể đến trường. Thế nhưng, tôi vẫn nằm ở đây.” Điều làm anh ta khốn khổ là bầu trời ngoài kia. Nhìn vào những đám mây xám, anh nghĩ “những đám mây lạnh lẽo kia đang lén lút theo dõi tôi”, suy nghĩ đó trở đi trở lại suốt truyện. Anh kéo màn che cửa sổ, phủ kín mình trong chăn, thế nhưng bầu trời vẫn cứ đe dọa anh: “Có vẻ như bầu trời lạnh lẽo với những đám mây xám đã tan ra như bông tuyết, len lỏi qua khe cửa sổ, qua chiếc tatami, qua bức tường, và chui vào dưới mền của tôi”. Điều đó làm cho “sinh lực của tôi trở nên lạnh buốt”. Anh lắng nghe nhịp đập của trái tim mình, và tự hỏi vì lẽ gì mà trái tim mình đập? Tràn ngập một cảm giác cô đơn,vô dụng, anh nghĩ đến cái gì còn ràng buộc mình với cuộc sống này? Anh nhớ lại người bạn đã động viên mình: “Hãy nhớ rằng con người anh không chỉ thuộc về bản thân anh. Tất cả những người Triều Tiên đều gửi vào anh niềm trông đợi lớn lao.” Anh chọn cho mình đối tượng để yêu, không phải là một người phụ nữ, mà là đất nước Triều Tiên. Anh đã cố gắng hiến dâng bản thân mình bằng việc trở thành một thầy giáo, một nhà văn, nhưng nhận ra: “Tôi vẫn không thể gắn kết đời mình với Triều Tiên như những nhà yêu nước lớn đã làm. Tôi không thể nghĩ đến Triều Tiên như là tình nhân duy nhất của mình, và cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho nàng. Khi cô đơn, giá lạnh, tôi cố gắng để nghĩ đến Triều Tiên như thể nghĩ đến người yêu dấu. Nhưng tình yêu của tôi không đủ mãnh liệt đến chừng ấy, và Triều Tiên cũng không đáp lại tình yêu của tôi”. Kết lại câu chuyện, anh khẳng định: “Tôi hoàn toàn cô đơn”. Những đám mây vẫn không thôi hiện ra đe dọa anh…[17]

Nhân vật Yun Kwang-ho trong truyện ngắn cùng tên cũng là nhân vật cô đơn, khủng hoảng. Anh là sinh viên năm thứ hai ngành kinh tế ở một trường đại học tại Tokyo. Anh vừa giành được thứ hạng cao nhất lớp và trở thành đối tượng hâm mộ của những sinh viên Triều Tiên tại đây. Thế nhưng, chính lúc đó anh lại thấy cô đơn, phiền muộn. Truyện đi vào khai thác bề sâu tâm hồn: “Trong trái tim Kwang-ho có một sự trống vắng. Đã có một lỗ hổng rất rộng và rất sâu, khó có thể lấp đầy.” Anh có một người bạn thân là Kim Chun-won, nhưng tình bạn cũng không sưởi ấm được cho anh nữa. “Lỗ hổng trong tâm trí Kwang-ho ngày càng rõ rệt, nỗi cô đơn và sợ hãi ngày càng trở nên gay gắt… Ngay cả khi nghe Chun-won nói chuyện, những lời nói ấy không những không thể làm dịu lòng anh như trước đây, mà ngược lại, chỉ càng làm nỗi cô đơn và sợ hãi trở nên sâu sắc hơn.” Với Kwang-ho, “cả thế giới còn lại đều lạnh giá và cô đơn như một mảnh đất hoang phế.”

Để lấp đầy lỗ hổng này, anh cố gắng kiếm tìm tình yêu thương. Anh nhìn ngắm những đứa trẻ trong những chiếc xe đẩy, nhưng chỉ lát sau lại cảm thấy chán: “Anh không thỏa mãn với những thứ tình cảm nhẹ nhàng, nông cạn, và đòi hỏi phải có được một tình yêu cụ thể, nồng nàn. Lỗ hổng trong anh chỉ có thể được lấp bằng thứ tình yêu như vậy, và nỗi cô đơn, sợ hãi sẽ được khuây khỏa nhờ tình yêu đó.” Thế rồi anh yêu một người chưa từng gặp mặt, chỉ biết tới qua chữ cái viết tắt “P.” (mà cuối truyện sẽ hé lộ: đây hóa ra là một người con trai!). Anh trích máu viết thư gửi cho “P.”, nhưng tình yêu của anh bị từ chối. Quá đau khổ, anh đã tự tử. Người bạn Chun-won cuối cùng viết lên mộ bia của anh: “Đây là mộ của Yun Kwang-ho, người sinh ra trong một thế giới giá lạnh, sống giữa thế giới giá lạnh, và đã chết trong một thế giới giá lạnh.”

Truyện ngắn “Kim Kyong” thì khai thác thế giới tâm hồn của một thanh niên từng bị giằng xé giữa những luồng tư tưởng anh đọc được trong văn chương. Đầu tiên, anh đọc văn của Tolstoy, Kinoshita Naoe, và Tokutomi Roka”, cảm thấy tâm hồn mình “hạnh phúc và an lạc”, nhưng tất cả niềm an lạc biến mất khi anh bắt đầu đọc để rồi ngày càng say mê tác phẩm cũa Byron. Từ đó, “thiên thần và quỷ dữ giằng xé nhau để giành quyền kiểm soát linh hồn anh… Những từ như “đau khổ”, “cái chết” xuất hiện thường xuyên trong nhật ký của anh. Đôi khi, anh muốn tìm đến rượu và phụ nữ…”

Trong tâm trạng đó, anh trở về nước, dạy trường Osan. “Chính tại Osan, anh trở thành một người Triều Tiên thực sự”. Truyện mở ra trong một tâm trạng thư thái, sau đó trở về với những hồi ức giằng xé, để rồi dẫn đến tâm trạng đau khổ tiếp nối: Trở về nước dạy học, học trò trở thành đối tượng yêu thương, quan tâm duy nhất trong lòng anh- một kẻ từng lớn lên trong sự thiếu vắng tình cảm: “không hề biết đến hơi ấm của một gia đình có anh, chị, em ruột thịt”. Giờ đây anh yêu học trò như thể chúng là “em trai, em gái, và là cả người yêu nữa”, nhưng cuối cùng anh phát hiện chúng không hề quan tâm đến anh Anh đau đớn tự hỏi: “Có thể tìm ở đâu để có một người không lãng quên tôi?”.

Thế giới nội tâm khủng hoảng, cô đơn càng có ý nghĩa hơn khi được thể hiện ở những nhân vật khao khát trở thành nhà văn, những luôn gặp một trở lực vô hình khiến họ không thể viết. Đó là các nhân vật trong “Từ Tokyo đấn Seoul”, “Bàng hoàng”. Nhân vật Munho trong “Nỗi đau của chàng trai trẻ” cũng là hiện thân của một nhà văn bât lực trong ý nghĩa là “người kể chuyện”. Ban đầu anh là một người kể chuyện có duyên, dí dỏm với những câu chuyện thật hấp dẫn, nhưng sau ba năm du học ở Nhật trở về, sự thay đổi trong bản thân anh, cộng với sự thay đổi của những cô em gái nghe anh kể chuyện, tất cả đã biến anh thành người đau khổ, không còn cảm hứng. Với kiểu nhân vật này, nhà văn đã phơi trải chính tâm lý sáng tác của người cầm bút.

Việc khai thác nội tâm tiến xa hơn vượt bậc trong tiểu thuyết “Vô tình”. Thế giới tình cảm của các nhân vật trong tiểu thuyết này không chỉ được khai thác như những đối tượng đã hình thành, đã có sẵn, mà còn được thể hiện sinh động với cả quá trình thay đổi, từ hời hợt đến sâu sắc hơn qua từng sự kiện.

Truyện được hình dung là một “tam giác tình yêu”, nhưng cả ba “đỉnh” trong tam giác ấy ban đầu đều là những người chưa trưởng thành về mặt tâm hồn, và các “cạnh”, từ ban đầu đều khó có thể gọi là “tình yêu” thực sự.

Nhân vật Hyeong-sik là một sự lặp lại hình mẫu nhân vật quen thuộc trong sáng tác của Yi Kwang-su: Anh là một thanh niên mồ côi, từng đi du học tại Nhât Bản, trong suốt thời sinh viên anh luôn cô đơn, chưa bao giờ có thể kết bạn với một người cùng lứa tuổi. Trở về Hàn Quốc làm giáo viên, anh dồn hết tình yêu thương vào học trò: “Khi trở thành giáo viên và có mối liên hệ với học trò, tình yêu thương của Hyeong-sik, thứ tình cảm mà anh đã kiếm tìm và khao khát suốt hai mươi năm nay, trỗi dậy như những ngọn cỏ non đâm lên trong gió xuân sau một mùa đông dài bị tuyết phủ kín”[18]. Truyện có nói: “Mặc dù Hyeong-sik tự nhận mình là một người đã trưởng thành, nhưng chính anh cũng chưa trải qua “cuộc thử lửa đầu tiên” mang tên là “cuộc đời”.”

Sự thay đổi đến với anh lần đầu tiên sau khi gặp lại Yeong-chae, nghe cô kể chuyện gia đình tan nát và cha cô đã tự tử trong tù. Câu chuyện của Yeong-chae có sức tác động lớn lao: “Như thể có một lớp màng vừa được bóc ra khỏi đôi mắt anh. Không, không phải lớp màng được bóc khỏi đôi mắt, mà đúng hơn là một con mắt xưa nay nhắm kỹ, bây giờ mới vừa mở ra… Chỉ đến bây giờ “con người bên trong” Hyeong-sik mới mở mắt, và với “con mắt bên trong mình”, Hyeong-sik bỗng nhìn thấy “ý nghĩa bên trong” của tất cả mọi sự việc…”

Seon-hyeong, cô học trò, và sau đó là vị hôn thê của Hyeong-sik trong phần đầu truyện cũng là một cô gái trẻ con, hời hợt: “Cô chưa từng trải qua thử thách của cuộc đời. Một cô gái như vậy chỉ có thể trở thành một người đích thực sau khi đã trải qua “cuộc thử lửa đầu tiên” mang tên là “cuộc đời”, khi nào mà “con người” trong cô được đánh thức”.

Mặc dù được nuôi dưỡng trong một gia đình “hiện đại”, nhưng chính những người trong gia đình đó cũng không thực sự hiểu “tự do”, “bình đẳng”, “hiện đại” thực sự là như thế nào? Việc cô nhận lời lấy Hyeong-sik, thực ra cũng nằm trong sự xếp đặt của cha cô, về bản chất chẳng khác bao nhiêu so với việc Yeong-chae tuân theo lời dặn dò của cha cô, chỉ khác là Seon-hyeong được hỏi ý kiến, và cô đồng ý, vì cô vẫn nghĩ mình phải nghe lời cha. Lúc nhận lời, cô chưa biết yêu, hoặc nếu gọi là “yêu”, đó chỉ là thứ tình cảm bề ngoài, hoàn toàn nông cạn: “Cả Hyeong-sik lẫn Son-hyong đều không hiểu gì về nhau cả. Tình yêu của họ giống như tình yêu với một bông hoa đẹp…. Đó là thứ tình yêu ở bề mặt… Khi nhìn nhau, họ băn khoăn: “Trong tâm trí người này đang có cái gì nhỉ?” Sau lễ đính hôn, Seon-hyeong ngày càng nhận ra vị hôn phu chẳng có gì giống với người tình lý tưởng mà cô hằng mơ mộng, cô cố gắng thay đổi khuôn mặt vị hôn phu, song lát sau đâu lại trở lại đấy, như cũ, khiến cho Hyeong-sik hoang mang đến mức anh phải trực tiếp hỏi: “Liệu em có yêu anh không?”, và câu hỏi đó lại càng kéo theo nhiều hiểu lầm cho Seon-hyeong.

Chỉ với sự có mặt của Yeong-chae trên tàu, “cuộc thử thách đầu tiên” của cuộc đời mới đến để Seon-hyeong tìm thấy con người thực của mình. Khi Hyeong-sik tìm Yeong-chae để nói chuyện, “trái tim Seon-hyeong không còn yên ả nữa… Cô như thể đang vỡ ra cùng nước mắt”. Lần đầu tiên cô biết đến nỗi ghen tuông, sầu muộn, và lần đầu tiên biết đến tình yêu- thứ mà trước giờ cô chỉ được biết qua tiểu thuyết và trong tôn giáo. Con người bên trong Seon-hyeong đã được đánh thức, lần đầu tiên cô biết có những gì trong tâm hồn chính mình.

Về nhân vật Yeong-chae, con người thực của cô trước đây còn ngủ quên trong quan niện phong kiến về tiết hạnh, về bổn phận của người phụ nữ, và sau hàng loạt biến cố, con người thực, con người nội tâm trong cô đã được đánh thức dậy bởi người bạn mới Kim Pyeong-uk, người đã dạy cô làm chủ cuộc đời của chính mình.

Không chỉ có ba nhân vật này được “đánh thức”, tìm thấy con người bên trong chính mình, mà còn có nhiều nhân vật khác nữa cũng tìm thấy mình: anh bạn nhà báo của Hyong-sik, mụ “tú bà” của Yeong-chae, và cả Kim Pyeong-uk.

Một bước phát triển nữa trong việc thể hiện con người nội tâm, thế giới tình cảm của các nhân vật trong tiểu thuyết này so với trong truyện ngắn của Yi Kwang-su là nếu như trong truyện ngắn, nội tâm nhân vật thường được bộc lộ qua bối cảnh sống, đó là đất nước Nhật Bản xa lạ, là Triều Tiên đổ nát, là một cơn bệnh vừa qua, là hoàn cảnh cô đơn…, thì đến tiểu thuyết “Vô tình”, nội tâm nhân vật đã bộc lộ không phải qua ngoại giới, mà là trong cính mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau.

Để có thể khai thác thế giới nội tâm của nhân vật, Yi Kwang-su đã dùng nhiều hình thức trần thuật: Trần thuật ngôi thứ ba trong “Kim Keong” và “Yun Kwang ho”, ngôi thứ nhất trong “Bàng hoàng”, kể chuyện dưới dạng thư từ trong “Từ Tokyo đến Seoul”, “Thư gửi người bạn trẻ”… Hình thức kể chuyện dưới dạng thư từ được khai thác hiệu quả đến mức Yi Kwang-su từng được gọi là “nhà văn của những lá thư”,  “Thư gửi người bạn trẻ” được xem là “kiểu mẫu” cho thư từ của những người đang yêu.

Một đặc điểm nghệ thuật nữa làm cho truyện ngắn và tiểu thuyết của Yi Kwang-su gắn chặt với thế giới nội tâm là việc sử dụng mô típ nhân vật “xê dịch” và những chuyến trở về để khám phá bản thân. Có thể thấy rõ tính tượng trưng của hình ảnh “chuyến tàu” trong sáng tác của Yi Kwang-su, đặc biệt là “Thư gửi người bạn trẻ” và tiểu thuyết “Vô tình”. Trong các tác phẩm này, nhân vật trong cuộc hành trình không chỉ tìm thấy tình yêu, tìm thấy con người thực của mình, mà hơn nữa, còn tìm thấy mối gắn kết sâu đậm giữa họ và Triều Tiên.

Với các sáng tác của mình, Yi Kwang-su đã say sưa đi trên hành trình khám phá nội tâm, gắn liền với việc đánh thức “tinh thần dân tộc” của người Triều Tiên. Yi Kwang-su đã hiện đại hóa văn chương, hướng nó theo thi pháp văn chương phương Tây, nhưng vẫn thấm đẫm tinh thần dân tộc, và đúng như lý thuyết của ông, các sáng tác này đã “chuyển giá trị tinh thần của nền văn minh này đến những thế hệ tương lai”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su , in trong The Narratives of Nation Building in Korea: A Genealogy of Patriotism,  NXB  Sharpe, M.e., Inc.

Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, in trong Colonial Modernity in Korea, NXB Đại học Havard.

Ann Sung-hi Lee: The Early Writings of Yi Gwang-su, Korea Journal Vol.42 No.2 Summer 2002, http://www.ekoreajournal.net


* Học viên cao học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn ĐHQG TP. HCM

[1] Dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, in trong The Narratives of Nation Building in Korea: A Genealogy of Patriotism,  NXB  Sharpe, M.e., Inc, tr 25

[2] Dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr 23

[3] Dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr 24

[4] Dẫn theo Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, in trong Colonial Modernity in Korea, NXB Đại học Havard, tr 511

[5] Dẫn theo Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, đd, tr 257

[6] Dẫn theo Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, đd, tr 255

[7] Dẫn theo Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, đd, tr 258

[8] Dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr 25

[9] Dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr 37

[10] Dẫn theo Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, đd, tr 260

[11] Early…

[12] Dẫn theo Interior…, tr 273

[13] Dẫn theo The early writing…

[14] Yi Kwang-su: thư gửi người bạn trẻ, dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr 34

[15] Yi Kwang-su: Nỗi đau của người thanh niên, dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr tr35

[16] Yi Kwang-su: Nỗi đau của người thanh niên, dẫn theo Sheila Miyoshi Jager (2003): The quest for Feeling: Yi Kwang-su, đd, tr tr 35

[17] Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, đd, tr 270

[18] Michael D. Shin (2001): Interior Landscapes: Yi Kwangsu’s “The Heartless” and the Origins of Modern Literature, đd, tr 279


vape, vape shop, vaping imperial plaza giải phóng dịch văn bản sang tiếng anh

link 188bet khong bi chan

link vao 188bet

link vao fun88, w88, v9bet

tin hoc ic3

chung chi a2

nhận định bóng đá

tips bóng đá

tỷ lệ bóng đá

dịch tiếng anh chính xác nhất

dịch tiếng anh sang tiếng việt nhanh nhất

dịch tiếng anh bằng hình ảnh

keobongda


Tìm kiếm
Bài viết xem nhiều
Facebook
Liên kết website
Du học Nhật BảnDu học Đài LoanDu học Hàn QuốcDu học Anh QuốcDu học ÚcDu học Singapore
Thống kê
Đang truy cập: 39
Truy cập hôm nay: 1160
Tổng lượt truy cập: 620947
Kênh du học